| Thông tin | Tin khắp nơi | ||||||||
| Giữa mây mù Mù Cang Chải : 15/04/2009 | |||||||||
| Huyện Mù Cang Chải trước đây là vùng đất của châu Mường Cang, Than Uyên (Lai Châu). Chuyện kể rằng, khi lập huyện, người ta định đặt tên là Cang Chải, lấy từ chữ Cang của Mường Cang và chữ Chải trong tên xã Lao Chải, thủ phủ của châu. Sau thấy địa giới huyện đến giữa đèo Cao Phạ, giáp với Tú Lệ huyện Văn Chấn (Yên Bái), quanh năm có mây mù bao phủ nên thêm vào chữ Mù. Ðến nay, từ một huyện nghèo, Mù Cang Chải đã và đang chuyển mình mạnh mẽ. | |||||||||
|
Giữa mây mù Mù Cang Chải
Lao xao... Lao Chải Từ quốc lộ 32, chúng tôi vượt cầu treo sang đất Lao Chải (huyện Mù Cang Chải, Yên Bái). Từ bên kia đường đã nhìn thấy lá cờ phần phật bay ở trụ sở UBND xã, nhưng phải mất hơn 30 phút gồng tay lái xe máy mới đến được. Lãnh đạo xã đi vắng. Trưởng Công an xã Mùa A Lù, nhân viên văn phòng Giàng A Hua sau khi loay hoay xem xong giấy giới thiệu cứ vò đầu bứt tai rồi gợi ý: "Nhà báo lên trường hỏi các thầy giáo ấy, các thầy biết cả đấy, chứ nếu gặp Bí thư hoặc Chủ tịch thì phải đợi đến mai, may ra các ông ấy mới đến trụ sở". Con đường khoảng bốn cây số đã "ngốn" của chúng tôi gần một tiếng đồng hồ đánh vật với sống trâu, ổ voi và đá cuội... Trời nhập nhoạng tối. Ngôi trường mà chúng tôi tìm đến đã hiện ra trước mắt, thấp thoáng sau trái núi nhấp nhô, khuất sau những ngôi nhà trống tuềnh trống toàng của đồng bào Mông bản Lao Chải. Vừa đúng giờ nghỉ buổi chiều, các thầy cô giáo đang chơi bóng chuyền, cầu lông. Còn một vài em học sinh thì chơi trò tung vòng thun - trò chơi duy nhất của học trò ở đây. Thấy người lạ, một chàng trai trẻ sốt sắng chạy lại, tay vẫn cầm cây vợt. Hóa ra, đó là thầy giáo Ðỗ Xuân Ðạt, Hiệu trưởng của "tổ hợp" Trường Mầm non, Tiểu học và THCS Lao Chải. Thầy Ðạt được biết đến như là một Hiệu trưởng bậc THCS trẻ nhất tỉnh Yên Bái hiện nay. Khi chúng tôi nói đến nội dung cần làm việc thì nhận được một câu trả lời không ăn nhập tí nào: "Thôi, mời các anh tối nay ở lại cùng anh em chúng tôi, ăn một bữa cơm, ngủ một đêm trên núi, rồi tính sau". Xin nói thêm một chút về ngôi trường mang tên Lao Chải này. Gọi là liên thông cho oai thôi chứ thực chất đó là ba cấp học (Mầm non, Tiểu học và THCS) cùng chung một Ban giám hiệu. Toàn trường có 35 giáo viên, 748 học sinh (100% là dân tộc Mông), với khoảng 40% số em ở nội trú. Tuy nhiên, đây không phải là trường nội trú nên thầy trò tự tạo ra những chỗ ở "không giống bất cứ đâu". Thầy Ðạt cho biết, việc lo chỗ ở cho học sinh là một trong những nhiệm vụ bắt buộc nếu muốn giữ các em ở lại lớp. Có lẽ vì thế có cảm giác thiếu thốn, tạm bợ trong khu nhà các em học sinh ở. Thầy Ðạt thổ lộ: "Không có kinh phí, không có chế độ, thậm chí mấy căn phòng cho các em ở chúng tôi cũng phải tận dụng từ phòng học đấy". Khu phòng học này thừa ra làm chỗ ở vì mấy năm học trước, huyện Mù Cang Chải đã tách, lập thêm một trường tiểu học nữa ở một khu vực khác. Học sinh của sáu bản cao hơn, với khoảng 350 em cũng đỡ phải đi xa thêm. Tuy thế, cũng còn lại học sinh của tám bản khác tập trung về đây học tập. Mấy năm gần đây, năm nào trường Lao Chải cũng được ghi thành tích "thực hiện tốt việc huy động học sinh tới lớp và giữ các em ở lại trường học hết năm học". Năm nào xã Lao Chải cũng có hơn 90% số em trong độ tuổi đến trường, chỉ có khoảng 2% trong số đó thôi học giữa chừng. Hiện cả xã cũng chỉ còn khoảng 30 người chưa biết chữ. Ðược như vậy, một phần cũng do đời sống của đồng bào nơi đây đã khá hơn, tư duy, tập quán lạc hậu đã thay đổi. Số đông bà con đã vui vẻ cơm đùm, gạo nắm cho con em đến trường. Nhiều người còn gánh gạo, rau... đưa con đến tận nơi, nhờ các thầy, cô lo cho con trẻ từ bữa cơm, bát nước đến mảnh chăn đắp trong những đêm lạnh. Cái chữ Bác Hồ đã bám rễ vững chắc trên mảnh đất còn muôn vàn khó khăn này. Nỗi niềm thầy giáo vùng cao Nói chuyện với thầy Ðỗ Xuân Ðạt, tôi thật sự khâm phục ý chí, quyết tâm của chàng trai trẻ này. Gần 10 năm dạy chữ ở vùng cao, tiếng Mông, phong tục tập quán của người Mông ở Lao Chải đối với thầy cũng thân thuộc như tiếng Kinh và phong tục của người Kinh vậy. Nhớ lại khoảng 10 năm trước, đường lên trung tâm xã không có, điện không, thậm chí cả học sinh cũng... không. Thế mà bây giờ, mọi thứ đủ cả. "Sướng nhất là việc vận động bà con cho các em tới trường không còn khó khăn như trước nữa. Ngày trước chúng tôi khoác ba-lô đi mấy ngày đường đến bản, nước không được mời, có hôm còn bị dọa...đánh. Nhìn nhau mà khóc không thành tiếng, vừa sợ, vừa thất vọng", thầy Ðạt nhớ lại. Trong trí nhớ của thầy giáo người Kinh quê ở Lục Yên (Yên Bái) này vẫn còn nguyên những tháng ngày gian khó ấy. Những điểm trường như Háng Gàng, Dào Xa, Tà Gênh, Dào Cu Nha, Hú Trù Lìn... giờ đã có đường xe máy đi, điện cũng có ở một số bản. Phần lớn đồng bào người Mông đã có ý thức cho con em đi học, cái việc "sợ nhất, khó nhất" trước kia của các thầy cô giáo đã được giải quyết. Công việc của giáo viên nhà trường cũng vì thế mà nhẹ nhàng rất nhiều. Trường cũng không thiếu những thầy cô "mới toanh" vừa lên nhận công tác. Tôi nhớ nhất cô giáo Thúy, mới chân ướt, chân ráo từ Hưng Hà (Thái Bình) lên được hơn chục ngày. Lạ đất, lạ người, suốt ngày ngồi trong phòng, nhưng cô không thấy buồn. "Em muốn và thích được đi dạy ở vùng cao để thử sức mình, thế thôi", Thúy chỉ nói đơn giản như vậy. Mới lên, việc đầu tiên của Thúy là làm quen với khí hậu, với cách sinh hoạt vùng cao và học tiếng Mông. Như quy định bất thành văn, giáo viên mới lên Lao Chải đều phải trải qua một kỳ sát hạch tiếng Mông sau ba đến sáu tháng. Giám khảo chính là các đồng nghiệp, học sinh và đồng bào. Người nào vượt qua đợt sát hạch được bà con coi như người nhà. Lao Chải có gần 80% giáo viên đã đạt yêu cầu này, được đích thân thầy giáo Giàng A Súa, Phó Hiệu trưởng xác nhận. Thầy Súa là người Mông chính gốc Lao Chải, rất ít nói. Với anh, hạnh phúc nhất đời là được làm giáo viên, đi dạy chữ cho chính đồng bào mình. Tôi cũng không quên nụ cười giòn tan, trong vắt của cô giáo Tiệp, quê ở Lục Yên khi chúng tôi xuống bản dự một đám cưới của đồng bào. Với người Mông Lao Chải, uống rượu là để thêm ấm lòng, để thể hiện tình cảm và để đừng quên nhau... Ở Lao Chải này, đã có nhiều người tìm thấy "một nửa" của mình trong số các đồng nghiệp. Thầy Ðạt, cô Huyền, cô Xuân, thầy Hải... ở trong số những người đó. Họ đã tìm thấy sự đồng cảm, sự chia sẻ và tình yêu trên mảnh đất này để rồi hình thành nên những gia đình nhỏ, có thêm những tiếng trẻ bi bô làm ấm lòng trong đêm giá lạnh. Tuy vậy, không phải ai cũng có được niềm hạnh phúc trọn vẹn ấy. Trường Lao Chải có nhiều thầy cô vẫn sống cảnh "một nhà hai niêu" mà mỗi lần gặp nhau giống như vừa đi thi "ba môn quân sự phối hợp": Ði bộ từ điểm trường xuống, nhờ xe máy ra quốc lộ và lên ô-tô vượt hàng trăm cây số để về nhà. Sức sống, sự đổi thay, và rất nhiều điều tốt đẹp đã có và đang hiện hữu ở Lao Chải càng củng cố vững chắc niềm tin nơi những người giáo viên vùng cao. Họ đang ngày ngày làm những nhịp cầu để kéo gần miền núi lại miền xuôi, bằng con chữ, bằng sự tiến bộ... Tuy thế, chính họ lại đang phải sống trong hoàn cảnh rất thiếu những điều đáng được hưởng. Tôi nhớ lúc chia tay, thầy Hiệu trưởng Ðạt cứ ao ước làm thế nào để có cho các em học sinh nội trú những chiếc giường chắc chắn. "Tất nhiên, trước là tốt cho các em, sau nữa cũng là tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ vận động học sinh đến lớp và hạn chế việc các em bỏ học" - thầy tâm sự.
Theo Nhân Dân |
|||||||||
|
|
|
||||||||