Thông tin Tin khắp nơi
Chữ "nhân" sáng giữa đại ngàn : 15/04/2009
Những thân phận mồ côi, những cảnh đời bất hạnh ấy, có thể sẽ trôi về miền cay đắng khôn cùng nếu trên đời này không có những tấm lòng nhân hậu, bao dung. Những đứa trẻ sinh ra trong khốn khổ giờ đây đã khôn lớn, trưởng thành. Những cụ già không nơi nương tựa, lang thang giữa núi rừng giờ được sẻ chia, ân cần chăm sóc. Ðó là nhờ những người dân quê bình dị, dù sống trong nghèo khó, nhưng có tấm lòng bao la, thắp sáng lên ngọn lửa nhân ái giữa đại ngàn... Người phụ nữ Cơ Ho và tám đứa con nuôi...

Chữ "nhân" sáng giữa đại ngàn 

Những thân phận mồ côi, những cảnh đời bất hạnh ấy, có thể sẽ trôi về miền cay đắng khôn cùng nếu trên đời này không có những tấm lòng nhân hậu, bao dung. Những đứa trẻ sinh ra trong khốn khổ giờ đây đã khôn lớn, trưởng thành. Những cụ già không nơi nương tựa, lang thang giữa núi rừng giờ được sẻ chia, ân cần chăm sóc. Ðó là nhờ những người dân quê bình dị, dù sống trong nghèo khó, nhưng có tấm lòng bao la, thắp sáng lên ngọn lửa nhân ái giữa đại ngàn... Người phụ nữ Cơ Ho và tám đứa con nuôi...

 

 

 

Mặt trời đã tắt sau ngọn núi Ðăng Dung. Rừng tím sẫm trong buổi hoàng hôn. Ngược dòng những đàn trâu núi đang lanh canh lục lạc trên đường về nhà, chúng tôi tìm đến buôn Xoan của người Cơ Ho thuộc thị trấn Ðinh Văn, huyện Lâm Hà (Lâm Ðồng) nằm bên quốc lộ 27. Hỏi nhà chị Ka Hiếu không khó khăn lắm, bởi không ai ở vùng này là không biết chị và những câu chuyện về tấm lòng nhân hậu của chị. Ðối diện chúng tôi là người phụ nữ có gương mặt hiền từ với nụ cười hồn nhiên, chân chất. Chị không nói nhiều về bản thân mình, chị nói nhiều về những đứa con. Người mẹ ấy sung sướng, mãn nguyện khi kể về những đứa lớn nay đã trưởng thành, và nước mắt ròng ròng không kìm lại được khi nhắc đến cháu K'Len không may đã mất và cháu K'Niệm đang mắc bệnh hiểm nghèo. Những đứa con ấy chị không chín tháng mười ngày mang nặng, không trở dạ vượt cạn, nhưng chúng đã lớn lên bình yên trong vòng tay yêu thương của chị. Chị đã ôm trong vòng tay của mình tám đứa con nuôi và bây giờ, thêm một đàn cháu ngoại mạnh khỏe, ngoan ngoãn. Theo dòng hồi ức, Ka Hiếu kể lại: Mẹ chết từ năm 1968, cha chị đi bước nữa năm 1971. Ka Hiếu đã lớn lên trong căn nhà lạnh lẽo với thân phận mồ côi. Tuổi thơ của chị đã thấm đẫm nước mắt tủi khổ. Năm 1977, mới bước sang tuổi 18, Ka Hiếu lấy chồng. Chị trải qua một lần sinh nở, nhưng cháu bé mới ba tháng tuổi đã bất hạnh qua đời. Hai năm sau, chị lại phải gánh thêm nỗi đau chồng bị bọn phỉ Phun-rô bắn chết. Từ đó, như một định mệnh, cuộc đời chị đã gắn liền với nhiều đứa trẻ côi cút, bơ vơ với sự lo toan và chia sẻ của người chồng mới là anh K'Déo. Chị kể: "Năm 1979, tôi nhận nuôi cháu Ka En khi mẹ cháu bị mất vì sốt rét ác tính. Lúc đó, tôi 20 tuổi, Ka En bảy tuổi. Không kể thì các anh cũng đã tưởng tượng ra là gian nan vất vả biết chừng nào. Một mẹ, một con, lại sống trong tâm trạng bị nhiều người dị nghị, nhưng vì thương cháu mồ côi, tôi đã chấp nhận mọi điều để nuôi dưỡng cháu nên người". Ka En đã thật sự nên người. Khi chúng tôi đang trò chuyện thì Ka En dẫn một đàn con sang thăm ông bà ngoại. Ka En nhớ lại với giọng xúc động: "Em về với mẹ Ka Hiếu từ lúc lên bảy, khi mẹ đẻ qua đời. Bao năm tháng qua, mẹ đã yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy em nên người, rồi lại hết lòng lo cho các con em. Nếu không có mẹ thì đời em không biết đã đi về đâu!". Ka En cũng mời chúng tôi qua thăm nhà, một ngôi nhà xây khang trang, khá đầy đủ tiện nghi và ấm cúng trong khuôn viên chung với ông bà ngoại. Sau Ka En, từ năm 1980 đến 1995, chị Ka Hiếu còn nhận thêm sáu cháu bé mồ côi khác về nuôi. Cháu lớn nhất khi về với chị là ba tuổi, và đứa nhỏ nhất mới ra đời được 20 ngày. Cô gái Ka Nhiêu đỏ hỏn khát sữa khóc không thành tiếng ngày nào, nay đã trở thành một bà mẹ trẻ. Cô cũng có một gia đình hạnh phúc, một mái nhà ấm cúng ngay trong vườn mẹ nuôi bên cạnh nhà chị cả Ka En. Chị Ka Hiếu nói: "Hồi tôi bế nó về đỏ hỏn và gầy queo như con mèo, khóc suốt ngày suốt đêm. Tôi phải chạy ngược, chạy xuôi để tìm đường sữa nuôi con". Theo tập tục của người Cơ Ho, nếu vợ chết thì người chồng bỏ con lại cho bên ngoại để đi lấy vợ khác. Trong hoàn cảnh như thế, chị Ka Hiếu đã nhận ba đứa trẻ về nuôi một lúc, đó là ba anh em ruột mồ côi mẹ, cha bỏ đi bước nữa: K'Len, K'Lẻ, Ka Nhiêu. Trong ba cháu thì K'Len đã mất cách đây ba năm sau một cơn đau nặng. Nhìn di ảnh của con, chị Hiếu nghẹn ngào: "Nó là đứa con trai đầu trong số các con của tôi. Cháu mất ba năm rồi nhưng tôi vẫn luôn nằm mơ thấy nó về nũng nịu mẹ". Trái tim của người phụ nữ nhân hậu ấy vẫn không thể ngủ yên khi nhìn thấy những mảnh đời ấu thơ bất hạnh. Ba đứa con mồ côi khác lại đã về trong vòng tay yêu thương của chị, đó là Ka Hoài, Ka Hồi và K'Lưu vào năm 1995. Hoàn cảnh chị lúc đó gặp rất nhiều khó khăn, chị nghĩ "thôi, xem thằng K'Lưu như là con út vậy". Nhưng rồi chị đã lại không thể kìm lòng được khi nghe tiếng khóc thất thanh của một cháu bé sơ sinh bị bỏ rơi. Ðó là một đêm tối trời vào tháng 11-2000, lúc đó, chị đã ngủ ngon thì chợt có tin báo từ Trung tâm y tế huyện Lâm Hà: Có một cháu bé vừa chào đời thì người mẹ đã trốn khỏi phòng sinh. Mọi người ở đó đang rất lúng túng thì có người chợt nhớ tới chị. Ka Hiếu cùng chồng chạy ngay đến Trung tâm. Khuôn mặt cháu đẹp nhưng khóc khản đặc cả tiếng. Chị đã rút tiền ra đóng viện phí và bồng cháu về nhà. Ðứa con út này chị Ka Hiếu đã đặt cho nó cái tên thật có ý nghĩa, K'Niệm - vẫn một cái tên của người Cơ Ho, dù chị không biết cha mẹ ruột của cháu người dân tộc nào. Ðưa K'Niệm về nuôi, vợ chồng chị đã lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn vì cháu đã phát triển không bình thường như những đứa trẻ đồng trang lứa khác. Sau 13 tháng đầu lớn rất nhanh, K'Niệm đã mắc bệnh động kinh. Nhìn gương mặt thất thần, biến dạng của con, chị đau lòng khôn tả. Chị đã bán trâu, bò, cà-phê... để đưa cháu về TP Hồ Chí Minh chữa trị, nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Mới đây, mẹ con lại dắt díu nhau lên Trường khuyết tật Lâm Ðồng nhờ được giúp đỡ, nhưng nhà trường khuyên chị đưa cháu đi chụp điện não đồ và nuôi thêm vài năm nữa. K'Niệm sống một đời sống thực vật, đã lên bốn tuổi nhưng chỉ như một đứa trẻ đang còn nằm nôi. Vậy là, suốt ngày này qua đêm khác, vợ chồng chị thay nhau ôm cháu trong lòng, chăm sóc cháu trong tâm trạng vô vọng. Chị nuốt nước mắt, giọt nước mắt của tình mẫu tử: "Nếu nơi nào nhận nuôi và chữa bệnh để cho cháu có thể trở thành người bình thường, tôi sẵn sàng bán hết nhà cửa, ruộng vườn để lo cho con...". Anh K'Déo nói với chúng tôi rằng, vợ chồng anh đã dồn tất cả sức lực để chữa chạy cho K'Niệm. Từ khi biết cháu lâm bệnh, gia đình đã "không dám sắm thêm một cái ly uống nước". Cũng may, nhờ biết tính toán và chăm chỉ làm ăn, kinh tế gia đình chị cũng khá. Vợ chồng Ka Hiếu là hộ nông dân sản xuất giỏi của thị trấn, thu nhập từ cà-phê, chăn nuôi và lúa hằng năm lên tới cả trăm triệu đồng. Về thị trấn Ðinh Văn, chúng tôi còn được nghe mọi người kể thêm câu chuyện hết sức cảm động về chị Ka Hiếu. Ðó là năm 2000, chị bị lâm bệnh nặng phải đi TP Hồ Chí Minh phẫu thuật. Trong tâm trạng sợ mình không qua khỏi cơn bạo bệnh, để lại những đứa con còn nhỏ thêm một lần bơ vơ, chị đã bán 20 con lợn, hai con bò, và năm tấn cà-phê được 90 triệu đồng và dùng hết số tiền đó mua bảo hiểm cho các cháu: Ka Hồi, K'Lưu và K'Niệm... Và những người Chil nhân ái Chúng tôi về Ðam Rông - huyện vùng sâu của tỉnh Lâm Ðồng, vùng quê rừng nghèo khó bên dòng K'Rông Nô. Câu chuyện thấm đẫm tình người sẽ kể sau đây nói về tấm lòng nhân hậu của những người Chil đã sống theo đạo lý mà tổ tiên của họ truyền dạy: "Yang kon đời lang he - Yang kon me lang nài", nghĩa là: "Mình nghèo khổ nhưng có tấm lòng giúp người, trời sẽ cho điều phúc đức". Ðể đến được với buôn Mê Ka, xã Ðạ Tông và gặp gỡ những thành viên trong gia đình anh Rơ-ông Ha Tông giữa căn nhà gỗ khiêm nhường nép mình dưới chân núi Lơmbur, chúng tôi đã phải vượt một chặng đường rừng gần 200 km với những dãy núi trùng điệp, với ba con đèo chênh vênh, hiểm trở, được anh kể lại câu chuyện giành lại sự sống cho một đứa trẻ sơ sinh... Bao đời nay, đồng bào dân tộc Chil vẫn lưu truyền một hủ tục mà ai đã từng chứng kiến đều phải quặn lòng: nếu sản phụ nào đó, trong khi sinh nở chẳng may qua đời, thì đứa bé sơ sinh sẽ phải chôn sống theo mẹ. Cách hành xử bất nhẫn đó xuất phát từ quan niệm, nếu đứa trẻ ấy mà sống, sẽ truyền lại những điều xấu cho dòng họ và buôn làng. Người Chil gọi hủ tục này là "chớt briang". Biết bao nhiêu đứa trẻ vừa ra đời chưa một lần bú mớm, đã bị úp lên bụng người mẹ xấu số và bị vùi theo mẹ vào lòng đất sâu. Một ngày cuối tháng 3-1993, điều bất hạnh ấy đã đến với bà mẹ trẻ Liêng-hót Ka Pâng, khi hạ sinh đứa con thứ ba. Chị Kon-sơ Ka Glong, vợ Ha Tông kể: "Trước khi trở dạ hai ngày, Ka Pâng đã đuối sức lắm. Thế rồi, sinh con được ba ngày thì nó chết". Theo tập tục truyền đời, đứa bé ba ngày tuổi ấy rồi sẽ phải chôn cùng mẹ nó. Thật may mắn, đôi vợ chồng nhân hậu này đã đối đầu với hủ tục, giải cứu sinh mệnh cho đứa trẻ bất hạnh. Ha Tông tiếp lời: "Xót xa không cầm lòng nổi anh ạ. Thế là, vợ chồng tôi bàn bạc và quyết chí cứu sống cháu bé. Chúng tôi hết lời với những người trong dòng tộc Ka Pâng. Lời thuyết phục xuất phát tận đáy lòng trong chan chứa nước mắt, cuối cùng cũng làm mọi người thuận ý. Trước khi bế đứa trẻ đỏ hỏn, chỉ nặng hơn một kg với hai phần sống, tám phần chết về nhà, Ha Tông cam kết với buôn làng: "Tôi coi nó như con ruột. Nếu nó sống, sẽ nuôi dạy đàng hoàng. Nếu nó chết, sẽ chôn cất tử tế". Ðứa trẻ ấy đã về nhà anh với cái tên do bố mẹ nuôi đặt: Kon-sơ Tho My. Tho My, tiếng Chil có nghĩa là "được cứu sống". Với quan niệm truyền kiếp như thế, lúc nhận cháu về nuôi, vợ chồng anh có e ngại không? - Tôi hỏi. "Ở dân tộc chúng tôi, nếu có người chết như thế, không có ai đến thăm và việc chôn cất cũng chỉ do những người trong dòng tộc lo. Người Chil cho rằng, ai dám nhận nuôi con người chết sẽ mang theo sự xui xẻo, mang theo con ma về nhà. Nhưng vợ chồng tôi không nghĩ thế". Từ lúc sơ sinh cho đến lúc học lên lớp ba, Tho My luôn đau ốm quặt quẹo. Sinh ra không được bú sữa mẹ, không có đường sữa, chỉ có nước cơm pha muối. Nhưng ơn Yàng, nhờ tình yêu thương của bố mẹ nuôi mà đến nay, cháu đã lớn lên khỏe mạnh, trở thành một đứa con hiếu thảo, một học sinh lớp chín ngoan hiền của Trường THCS Ðam Rông. Có một điều hết sức bất ngờ là đến tận giờ này, Tho My vẫn nghĩ rằng mình là con ruột của bố Ha Tông và mẹ Ka Glong. Cả bố, mẹ và các anh chị em nuôi đã giữ bí mật cuộc đời Tho My suốt 16 năm qua. Khi chúng tôi đang giữa chừng câu chuyện, chợt nghe tiếng xe đạp lách cách và tiếng gọi "Bạp ài!" (bố ơi) nũng nịu và thân thương từ ngoài ngõ vọng vào. Ha Tông nói: "Thằng Tho My về đấy". Cũng như vợ chồng Ha Tông, về với vùng sâu Ðam Rông này, chúng tôi cũng đã được gặp và sẻ chia với nhiều tấm lòng cao cả khác. Họ đã gánh thêm nỗi lo toan nhọc nhằn khi san sẻ tình cảm cho những cảnh đời bất hạnh. Vợ chồng Kon-sơ Ha Khánh và Kơ-sa Ka Glàng ở thôn Ða Kao 2, xã Ðạ Tông suốt năm năm qua đã làm thuê, cuốc mướn nuôi 13 miệng ăn trong nhà, trong đó có hai cụ già hơn 80 tuổi không nơi nương tựa là Kơ-sá Ha Sâng và Kon-sơ Ha Nông. Ðó là vợ chồng Ða Cát Dương và Mok Ka Ðên dù chẳng khá giả gì nhưng luôn sẻ bớt phần cơm gạo trong nhà cho những người khó khăn, đứt bữa... Khi viết những dòng này, nhớ lại hình ảnh bé K'Niệm hồn nhiên ngủ trong ngực cha K'Déo hay vọng tiếng gọi "Bạp ài" của cháu Tho My gọi bố Ha Tông, chúng tôi chợt nghĩ, những thân phận mồ côi ấy có thể sẽ trôi về miền cay đắng khôn cùng, nếu trên đời này không còn những tấm lòng nhân hậu, bao dung.
 Theo QĐND
Lên đầu trang Quay trở lại
Gửi Email Gửi phản hồi Xem phản hồi In